Phát triển kinh tế số và xã hội số trong bối cảnh mới
16/09/2026 2026-09-16 10:34Phát triển kinh tế số và xã hội số trong bối cảnh mới
Phát triển kinh tế số và xã hội số trong bối cảnh mới
Ngày 15/9/2026, tại Đại học Kinh tế Quốc dân đã diễn ra Hội thảo khoa học “Phát triển kinh tế số và xã hội số trong bối cảnh mới”. Hội thảo tập trung làm rõ tác động của kinh tế số đến năng suất của nền kinh tế, những yêu cầu đặt ra đối với phát triển và quản trị xã hội số trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, qua đó góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa học và thực tiễn cho quá trình hoạch định chính sách trong giai đoạn tới.

Quang cảnh Hội thảo
Tham dự Hội thảo, về phía đại biểu ngoài trường có: TS Nguyễn Tùng Lâm – Viện trưởng Viện năng suất Việt Nam; TS. Trần Hậu Ngọc – Phó Chủ tịch Ủy ban tiêu chuẩn đo lường chất lượng Quốc gia; PGS.TS Bùi Hữu Đức – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại; TS. Lê Xuân Sang – Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới; ThS. Nguyễn Anh Dương – Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược; TS. Nguyễn Văn Trúc – Trưởng phòng Ươm tạo, Cục Khởi nghiệp và doanh nghiệp công nghệ, Bộ Khoa học & Công nghệ; PGS.TS Bùi Quang Tuấn – Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam; TS. Vũ Văn Chất – Viện trưởng Viện Kinh tế – Văn hóa và xã hội số; PGS.TS Đỗ Hương Lan – Trưởng phòng Quản lý Khoa học, Trường Đại học Tài chính – Marketing.
Về phía Đại học Kinh tế Quốc dân có: GS.TS Tô Trung Thành – Phó Giám đốc Đại học; GS.TS Trần Thọ Đạt – Chủ tịch Hội đồng Khoa học & Đào tạo; PGS.TS Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Hội đồng Tư vấn; cùng đại diện lãnh đạo các Trường, Phòng ban, Khoa, Viện, Trung tâm; các chuyên gia, các nhà khoa học, các cán bộ, giảng viên của Đại học.
Hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ thực hiện đề tài khoa học cấp quốc gia “Tác động của kinh tế số đến năng suất của nền kinh tế trong bối cảnh mới – Thực trạng, dự báo và khuyến nghị chính sách cho đến năm 2030”, mã số KX.01.07/21-30, phối hợp với đề tài “Chính sách phát triển xã hội số và quản trị xã hội số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam”, mã số KX.06.05/21-30. Việc kết nối hai hướng nghiên cứu cho phép tiếp cận chuyển đổi số không chỉ từ góc độ công nghệ hay kinh tế, mà trong mối quan hệ chặt chẽ giữa kinh tế số và xã hội số.

GS.TS Tô Trung Thành – Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân phát biểu
Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS.TS Tô Trung Thành – Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, trong bối cảnh mới, vấn đề cần quan tâm không chỉ là công nghệ số phát triển đến đâu, hạ tầng số được đầu tư như thế nào hay quy mô kinh tế số chiếm bao nhiêu phần trăm GDP, mà quan trọng hơn là những giá trị thực chất mà quá trình số hóa tạo ra cho nền kinh tế và xã hội.
Theo GS.TS Tô Trung Thành, công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa kinh tế khi góp phần nâng cao năng suất, tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn và cải thiện năng lực cạnh tranh. Bởi vậy, mục tiêu cuối cùng của chuyển đổi số không phải là “số hóa nhiều hơn” mà là “phát triển tốt hơn”. Cùng với yêu cầu thúc đẩy kinh tế số năng động và có năng suất cao, quá trình chuyển đổi cần hướng tới một xã hội số bao trùm, an toàn, có niềm tin và không để những nhóm yếu thế bị bỏ lại phía sau.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng và các nền tảng số đang làm thay đổi phương thức tổ chức thị trường, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy chính sách. Thay vì chỉ đặt câu hỏi làm thế nào để ứng dụng công nghệ, cần hướng tới những vấn đề lớn hơn: làm thế nào để công nghệ tạo ra năng suất, dữ liệu trở thành nguồn lực phát triển, doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ và sáng tạo công nghệ, đồng thời để người dân thực sự trở thành chủ thể của xã hội số.

PGS.TS Đỗ Hương Lan – Trưởng phòng Quản lý Khoa học, Trường Đại học Tài chính – Marketing phát biểu
Trong báo cáo đề dẫn, PGS.TS Đỗ Hương Lan – Trưởng phòng Quản lý Khoa học, Trường Đại học Tài chính – Marketing nhấn mạnh sự cần thiết phải đặt kinh tế số và xã hội số trong mối quan hệ chặt chẽ, thay vì tiếp cận như hai lĩnh vực tương đối độc lập. Kinh tế số chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra năng suất cao hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành những mô hình tăng trưởng mới. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số khó có thể được coi là thành công nếu người dân thiếu năng lực số, khoảng cách tiếp cận công nghệ ngày càng lớn, niềm tin trên môi trường số suy giảm, dữ liệu cá nhân chưa được bảo vệ hoặc những nhóm yếu thế bị bỏ lại phía sau.
Trong bối cảnh đó, một cách tiếp cận tích hợp được đặt ra giữa công nghệ số – đổi mới sáng tạo – năng suất – tăng trưởng – biến đổi xã hội – quản trị xã hội số. Đây cũng là cơ sở để Hội thảo tập trung thảo luận câu hỏi xuyên suốt: làm thế nào để phát triển kinh tế số vừa tạo ra năng suất và động lực tăng trưởng mới, vừa góp phần hình thành một xã hội số bao trùm, an toàn, có năng lực thích ứng và lấy con người làm trung tâm.
Từ cách tiếp cận này, các nội dung tại Hội thảo được triển khai trong hai phiên, đi từ tác động của kinh tế số đối với năng suất đến những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình số hóa. Phiên thứ nhất tập trung vào “Tác động của kinh tế số đến năng suất của nền kinh tế trong bối cảnh mới – Thực trạng, dự báo và khuyến nghị chính sách cho đến năm 2030”; phiên thứ hai thảo luận về “Phát triển và quản lý xã hội số ở Việt Nam: Thực trạng và những vấn đề đặt ra”.

PGS.TS Lê Thanh Hà – Đại học Kinh tế Quốc dân trình bày tham luận: Tác động của kinh tế số đến năng suất của nền kinh tế trong bối cảnh mới
Ở góc độ năng suất, tham luận của PGS.TS Lê Thanh Hà – Đại học Kinh tế Quốc dân tập trung đánh giá tác động của kinh tế số đến năng suất lao động tại Việt Nam ở cấp tỉnh, thành phố và doanh nghiệp. Nghiên cứu tiếp cận kinh tế số từ các hoạt động dựa vào hoặc được hỗ trợ đáng kể bởi công nghệ, hạ tầng, dịch vụ số và dữ liệu; đồng thời đặt trọng tâm vào việc đo lường giá trị tăng thêm mà kinh tế số tạo ra và mối quan hệ giữa quá trình số hóa với năng suất.

ThS. Nguyễn Anh Dương – Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược trình bày tham luận: Phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Một số góc nhìn chính sách
Tiếp cận từ góc độ chính sách, ThS. Nguyễn Anh Dương – Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược phân tích những yêu cầu đặt ra đối với phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Tham luận cho rằng doanh nghiệp cần được đặt ở vị trí chủ thể của quá trình chuyển đổi, đồng thời tiếp tục nâng cao nhận thức và năng lực tận dụng cơ hội từ kinh tế số. Bên cạnh đó là yêu cầu hoàn thiện thể chế cho đổi mới sáng tạo, tăng cường tự chủ công nghệ gắn với hội nhập quốc tế, bảo đảm cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng và nâng cao tính minh bạch trong sử dụng dữ liệu cũng như trách nhiệm của các nền tảng số.

TS. Nguyễn Văn Trúc – Trưởng phòng Ươm tạo, Cục Khởi nghiệp và doanh nghiệp công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ trình bày tham luận: Quản trị xã hội trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo: Tiếp cận từ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và năng lực hấp thụ công nghệ ở Việt Nam
Từ kinh tế số, Hội thảo mở rộng thảo luận sang bài toán quản trị xã hội số trong kỷ nguyên AI. TS. Nguyễn Văn Trúc – Trưởng phòng Ươm tạo, Cục Khởi nghiệp và doanh nghiệp công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất chuyển cách tiếp cận từ “đưa công nghệ vào xã hội” sang “tạo giá trị từ công nghệ”. Theo đó, đánh giá chuyển đổi số không nên dừng ở số lượng thuê bao Internet, tài khoản định danh, dịch vụ trực tuyến hay nền tảng đã triển khai, mà cần chú trọng năng lực số, năng lực AI, khả năng hấp thụ công nghệ cũng như những tác động thực chất tới năng suất, chất lượng dịch vụ công, chất lượng sống, tính bao trùm, an toàn và niềm tin số.
Tham luận cũng chỉ ra năng lực hấp thụ công nghệ là một mắt xích quan trọng trong chuỗi chuyển hóa từ hạ tầng và khả năng tiếp cận số đến đổi mới sáng tạo, tạo ra giá trị kinh tế – xã hội và hướng tới một xã hội số bao trùm, bền vững. Công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi được tiếp nhận, thích nghi, tích hợp vào hoạt động thực tế và liên tục cải tiến.

ThS. Trần Cẩm Nhung – Trường Đại học KHXH&NV trình bày tham luận: Quyền riêng tư trong xã hội số qua nhận thức, hành vi của công dân trẻ ở Việt Nam và hàm ý chính sách
Một vấn đề khác được đặt ra là quyền riêng tư của người trẻ trong xã hội số. Nghiên cứu do ThS. Trần Cẩm Nhung và PGS.TS Đỗ Hương Lan trình bày phân tích nhận thức và hành vi bảo vệ quyền riêng tư của công dân trẻ, từ đó nhận diện các yếu tố tác động và đề xuất hàm ý chính sách. Kết quả nghiên cứu trên 224 mẫu hợp lệ cho thấy nhận thức rủi ro, chuẩn mực xã hội, trình độ số và hành vi bảo vệ quyền riêng tư đều ở mức cao, trong khi niềm tin vào không gian mạng ở mức trung bình.
Đáng chú ý, kết quả mô hình nghiên cứu cho thấy chuẩn mực xã hội có tác động mạnh nhất đến hành vi bảo vệ quyền riêng tư, tiếp đến là trình độ số và nhận thức rủi ro. Từ đó, nhóm nghiên cứu cho rằng bảo vệ quyền riêng tư của người trẻ không chỉ là quyết định mang tính cá nhân mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ môi trường và các chuẩn mực xã hội.

GS.TS Trần Thọ Đạt – Chủ tịch Hội đồng Khoa học & Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân và PGS.TS Đỗ Hương Lan – Trưởng phòng Quản lý Khoa học, Trường Đại học Tài chính – Marketing điều hành phiên thảo luận tại Hội thảo
Các trao đổi tại Hội thảo cho thấy phát triển kinh tế số và xây dựng xã hội số ngày càng khó có thể được nhìn nhận như hai quá trình tách biệt. Khi công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo ngày càng tác động sâu rộng đến sản xuất, việc làm và đời sống xã hội, yêu cầu đặt ra không chỉ là đẩy nhanh ứng dụng công nghệ, mà còn phải chuyển hóa những tiến bộ đó thành năng suất, chất lượng tăng trưởng và những giá trị thiết thực cho người dân.
Thông qua những trao đổi giữa các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý và đại diện doanh nghiệp, Hội thảo góp phần bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn cho hai đề tài nghiên cứu, đồng thời gợi mở những định hướng chính sách nhằm phát triển kinh tế số gắn với nâng cao năng suất, quản trị hiệu quả những thay đổi do công nghệ tạo ra và xây dựng một xã hội số bao trùm, an toàn, có khả năng thích ứng và lấy con người làm trung tâm.

Bài và ảnh: Phòng Truyền thông